Con đường đất bụi mù dẫn đến làng Em-mau. Nắng chiều đổ bóng dài trên mặt đất. Hai môn đệ đang lê từng bước nặng nhọc, cúi gằm mặt, dáng vẻ vô cùng mệt mỏi và thất vọng.
Cơ-lê-ô-pát: (Thở dài thườn thượt) “Thế là hết… Thầy Giê-su của chúng ta đã bị đóng đinh trên thập giá rồi. Tôi buồn quá anh ạ.”
Môn đệ kia: (Lấy tay áo lau nước mắt) “Ừ, chúng ta cứ hy vọng Thầy sẽ là người cứu dân tộc mình. Vậy mà hôm nay đã là ngày thứ ba rồi… Sáng nay lại còn có tin đồn mấy bà ra mộ không thấy xác Thầy đâu, lại thấy thiên thần hiện ra bảo Thầy vẫn sống. Vài anh em chạy ra xem thì cũng thấy mộ trống. Thật chẳng biết đâu mà lần!”
Bất chợt, một người khách lạ từ phía sau bước nhanh tới, sánh bước cùng hai ông. (Đó chính là Đức Giê-su, nhưng mắt hai ông lúc này như bị che khuất nên không nhận ra Người).
Đức Giê-su: (Giọng êm ái, hiền từ) “Chào hai anh! Các anh vừa đi vừa trao đổi với nhau chuyện gì mà trông có vẻ buồn rầu thế?”
Hai ông dừng bước, ngơ ngác nhìn người khách lạ.
Cơ-lê-ô-pát: (Ngạc nhiên) “Chắc ông là người duy nhất ở Giê-ru-sa-lem không hay biết những chuyện tày trời đã xảy ra mấy bữa nay!”
Đức Giê-su: “Chuyện gì vậy?”
Cơ-lê-ô-pát: “Chuyện ông Giê-su người Na-da-rét ấy! Người là một vị ngôn sứ đầy uy quyền. Thế mà các thủ lãnh đã nộp Người chịu án tử hình. Chúng tôi đang buồn nẫu ruột đây!”
Đức Giê-su: (Lắc đầu nhẹ, mỉm cười) “Các anh chẳng hiểu gì cả! Lòng trí các anh thật chậm tin vào lời các ngôn sứ! Nào Đấng Ki-tô lại chẳng phải chịu khổ hình như thế, rồi mới được bước vào vinh quang của Người sao?”
Dọc đường đi, Người khách lạ say sưa giải thích Kinh Thánh cho hai ông nghe. Giọng nói của Người đầy sức mạnh và ấm áp đến kỳ lạ.
Mặt trời bắt đầu lặn dần, ráng chiều đỏ rực. Cả ba người đã đến trước ngã rẽ vào làng Em-mau. Đức Giê-su làm như muốn tiếp tục đi xa hơn nữa.
Cơ-lê-ô-pát: (Nắm lấy tay áo người khách kéo lại, nài nỉ) “Mời ông ở lại với chúng tôi đi! Trời đã xế chiều và ngày sắp tàn rồi, đi tiếp nguy hiểm lắm!”
Đức Giê-su gật đầu mỉm cười và bước vào nhà.
Bữa tối được dọn ra trên một chiếc bàn gỗ nhỏ. Ba người ngồi đồng bàn với nhau. Bấy giờ, Người khách lạ cầm lấy tấm bánh, ngước mắt lên dâng lời chúc tụng, bẻ ra và từ từ trao cho hai ông.
Môn đệ kia: (Mắt mở to, đánh rơi cả miếng bánh trên tay) “Ơ… Cử chỉ bẻ bánh này… Ánh mắt này… Thầy! Chính là Thầy Giê-su!”
Ngay lập tức, mắt hai ông sáng rực lên, nhìn rõ ràng đó chính là Chúa. Nhưng chớp mắt một cái, chỗ Người ngồi đã trống trơn. Đức Giê-su đã biến mất!
Cơ-lê-ô-pát: (Bật dậy, ôm lấy ngực mình) “Trời ơi! Anh có thấy không? Dọc đường, khi Người nói chuyện và giải thích Kinh Thánh cho chúng ta, lòng chúng ta đã chẳng bừng cháy lên sao?”
Môn đệ kia: (Hào hứng) “Đúng rồi! Không thể chờ đến sáng được! Thầy đã sống lại! Chúng ta phải về Giê-ru-sa-lem báo tin ngay!”
Hai ông quên hết cả mệt nhọc đói khát, chạy như bay trong đêm tối để về lại Giê-ru-sa-lem. Khi tông cửa bước vào nơi các môn đệ đang tụ họp, hai ông chưa kịp nói gì thì mọi người đã reo lên.
Các môn đệ: “Chúa trỗi dậy thật rồi! Người đã hiện ra với ông Si-môn!”
Cơ-lê-ô-pát và người bạn cũng vừa thở dốc vừa tươi cười kể lại chuyện mình đã gặp Chúa trên đường và đã nhận ra Người lúc “Bẻ Bánh” ra sao. Căn phòng ngập tràn tiếng cười và niềm hân hoan tột độ.
Các em thân mến! Trên con đường đời đầy những buồn bã và mệt mỏi, đôi khi chúng ta giống như hai môn đệ đi làng Em-mau, không nhận ra Chúa Giê-su vẫn luôn âm thầm bước đi ngay bên cạnh mình. Nỗi buồn có thể làm mắt chúng ta mờ đi, nhưng Lời Chúa và Bí tích Thánh Thể (việc bẻ bánh) sẽ làm cho lòng chúng ta “bừng cháy” và đôi mắt tâm hồn được mở ra để nhận biết tình yêu phục sinh của Ngài!



